slider0 slider1 slider2 slider3 slider4 slider5 slider6 slider7

CHẾ ĐỊNH BẮT NGƯỜI PHẠM PHÁP QUẢ TANG CHẾ ĐỊNH BẮT NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

A. CHẾ ĐỊNH BẮT NGƯỜI PHẠM PHÁP QUẢ TANG – BẮT NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

Bắt người phạm tội quả tang là một chế định của Luật tố tụng hình sự (TTHS) thể hiện tư tưởng của Đảng và Nhà nước động viên toàn bộ toàn dân tham gia tích cục vào công tác đấu tranh chống tội phạm.

-     Trong hệ thống văn bản dưới  luật chưa hướng dẫn cụ thể cho việc áp dụng này.

-     Thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp đáng tiếc “bắt oan, sai người vô tội”.

Để thực hiện chế định này chính xác chúng ta cần nghiên cứu, thảo luận để có cơ sở thực hiện nhiệm vụ của lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp trong nền kinh tế thị trường, tình hình an ninh trật tự có nhiều phức tạp theo đúng với tinh thần quy định pháp luật chung.

I.  CƠ SỞ PHÁP LÝ

-      Đây là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, là một trong những quyền tự do cá nhân quan trọng nhất mà Pháp luật Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bảo hộ (điều 71 Hiến pháp 1992). Đồng thời theo tinh thần của 71 Hiến pháp 1992 thì một người có thể bị bắt mà không cần có quyết định của Toà án nhân, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND  “nếu như họ phạm tội quả tang”.

          - Như vậy, khi một công dân thực hiện hành vi phạm tội thì đối với họ, Pháp luật cho phép áp dụng những biện pháp cưỡng chế đã phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Mà một trong những biện pháp đó là: “Bắt họ khi phạm tội quả tang”. Trong việc bắt giữ người này, không chỉ những người được giao nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh chống tội phạm như: cán bộ, chiến sĩ công an “mà cả công dân cũng có quyền thực hiện đồng thời đó là nghĩa vụ của công dân”.

          - Lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp của chúng ta cũng có quyền bắt giữ người theo quy định Pháp Luật, góp phần vào phong trào quần chúng bảo vệ An Ninh Tổ quốc (Điều 6 Chương 2 Nghị định 73/2001/ND (CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ)

          - Tại điều 82 BLTTHS quy định người phạm tội quả tang thì “bất kỳ người nào cũng có quyền bắt ngay đến cơ quan công an, VKS hoặc UBND gần nhất”.

            * Tóm lại: Việc công dân tiến hành bắt người phạm tội quả tang là hoàn toàn hợp lý, được Pháp luật thừa nhận và khuyến khích. Tất cả quy định nói trên của Hiến Pháp và BLTTHS, Nghị định 73 được coi là cơ sở pháp lý cho việc bắt người phạm tội quả tang.

II. NỘI DUNG

 Theo quy định tại điều 82 BLTTHS thì người phạm tội quả tang là người:

            1.  Đang thực hiện tội phạm.

            2.  Ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi bắt

            Vấn đề đặt ra ở đây để các công dân có thể biết được hành vi đã hoặc đang được một người cụ thể nào đó thực hiện là tội phạm để có thể bắt họ.

          Để công dân thực hiện về một số đối tượng cụ thể nào đó hoặc đang thực hiện hành vi tội phạm quả tang phải có sự hội đủ của hai yếu tố sau:

  • Sự hiểu biết của công dân về hành vi vi phạm Pháp luật cấm đoán. Nghĩa là những hành vi bị Pháp luật hình sự coi là tội phạm.
  • Công dân phải có đủ thông tin để khẳng định rằng hành vi bị coi là tội phạm đó đã hoặc đang thực hiện.

a.    Yếu tố thứ nhất:

Công dân nhận thức được có là hành vi nguy hiểm cho Xã hội, hiểu được đó là loại tội phạm rõ ràng và không phải là tội phạm.

   Nhận thức được trên cơ sở tri thức Xã hội, Pháp luật nói chung và những tri thức về đạo đức nói riêng (vì các hành vi đó trái với chuẩn mực đạo đức Xã hội)

   VD: Hành vi trộm cắp, cướp của, giết người, gây thương tích, hiếp dâm,…

-  Bộ luật Hình sự có nhiều quy định Pháp lý phù hợp các nguyên tắc đạo, dễ hiểu đối vối mọi người.

    Công dân có thể xác định được hành vi đã và đang thực hiện  và phải là tội phạm hay không để xác định cách thức ứng xử của mình “ bắt hay không bắt  người đạ hoặc đang thực hiện hành vi đó”.

-  Xét về về trình độ mặt bằng nhận thức Pháp luật nói chung. Pháp luật Nhà nước Công Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ cho phép các công dân bắt người phạm tội quả tang. Trên cơ sở dựa vào các tình tiết sau:

  • Hành vi có xu hướng gây thiệt hại đối với những khách thể quan trọng được pháp luật Hình sự bảo vệ: Tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản người khác.
  • Tính chất những hành động của đối tượng
  • Đối tượng  xâm hại.
  • Hậu quả so với hành vi gây ra: Làm chết người, làm hưu hỏng, hủy hoại tài sản của người khác.
  • Biểu hiện thái độ của đối tượng và người bị hại trong và sau khi hành vi đó được thực hiện.
  • Phương pháp được đối tượng sử dụng: sử dụng vụ lực, nguy hiểm.
  • Thời gian
  • Địa điểm
  • Hoàn cảnh khi thực hiện hành vi đó

b.   Yếu tố thứ hai:

   Do sự quan sát, cảm thụ trực tiếp của cải của công dân đối với  hành vi đã hoặc đang xảy ra. Hoặc nhận được từ những người khác đang đuổi bắt.

c.    Chú ý

-  Điều 64 BLTTHS quy định “ bắt người phạm tội quả tang” có thể chia làm 3 trường hợp (đã nêu trên)

-  Trong trường hợp “đang đuổi bắt” phải liền ngay sau khi hành vi và chạy trốn của đối tượng, nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về thời gian so với khi chạy trốn thì công dân không có quyền tự mình bắt người đó nữa. Mà phải báo cho người có thẩm quyền và việc bắt người này khi ấy được tiến hành theo quy định tại điều 63 BLTTHS “ bắt khẩn cấp”.

d.    Công tác dẫn giải cho cơ quan có Thẩm quyền

-  Khi bắt giữ được người phạm tội quả tang thì công dân không có quyền giữ, giam họ mà phải giải ngay đến cơ quan Công an, VKS, UBDN gần nhất (không giống như thời gian dẫn giải ngay sau khi bắt được: có thể đoạn đường quá xa – thời gian dài).

   VD: Từ vị trí A bắt đầu chuyển về vị trí B (CA xã)

            Bắt tại A là 6h

   Chuyển ngay sau khi làm thủ tục: 06h 10’

    Đến B là 06 giờ sáng hôm sau.

   Thời gian 12 giờ phải dẫn giải đến B thì không vi phạm pháp luật.

   Trường hợp ngược lại, công dân có thể phải chịu trách nhiệm Hình sự theo điều 119 BLHS về tội “giữ giam người trái pháp luật”.

d.   Hành vi bắt:

          Bản thân từ “bắt” có nghĩa:

          Nắm và giữ lấy.

          Đặt người khác vào tình trạng phải làm theo ý mình, như vậy việc bắt người là hành động.

          Tính chất, phương pháp, giới hạn của hành vi bắt người được xác định bởi khách thể của hành vi này: Tự do thân thể của đối tượng phạm tội quả tang. Như vậy, bắt người phạm tội quả tang có thể được thực hiện dưới hình thức tác động vũ lực hoặc tâm lý với ngươi đó.

Có thể: Bắt người tức trói lại và dẫn đi hoặc yêu cầu đối tượng đứng lại hay đi về nơi nhất định.

          Cũng có thể: sử dụng cả hai hình thức nói trên.          

-   Đến gần đối tượng và đe dọa sử dụng vũ lực nếu chống cự hoặc có thể đánh lừa đối tượng vào một căn phòng nhất định sau đó khóa cửa lại.

Nhưng thực tế việc bắt người phạm tội quả tang cho thấy nhiều trường hợp đối tượng không tuân thao yêu cầu của người bắt chúng. Đối tượng luôn tìm moị cách lẩn trốn, chống cự hoặc tấn công những người tiến hành bắt chúng, họ có quyền gây thiệt hại cho đối tượng hay không? Công dân có quyền và buột phải gây thiệt hại nếu điều đó cần thiết và hợp lý để đua người đến cơ quan có thẩm quyền với điều kiện “tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho Xã hội của hành vi phạm pháp luật, phù hợp với hoàn cảnh khách quan lục bắt và tình chất mức độ của sự chống cự lại của người phạm tội”.

             Trong trường hợp sử dụng vũ lực vượt quá mức cần thiết, công dân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự: do hành vi vượt quá phòng vệ chính đáng và tình chế cấp thiết.

B – Kết luận

            Việc thực hiện đúng chế định bắt người phạm pháp quả tang có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nếu không nhận thức đúng sẽ dẫn tới hậu quả “ bắt oan người vô tội hoặc bắt người chưa đến mức phải áp dụng chế định này của BLTTHS hay ngược lại không bắt những đối tượng đáng phải bắt theo Chế định này”.


hỗ trợ online

video - Clip

Fanpage

ĐỐI TÁC KHÁCH HÀNG

  • doitac0
  • doitac1
  • doitac2
  • doitac3
  • doitac4
  • doitac5
  • doitac6
  • doitac7
  • doitac8
  • doitac9
  • doitac10
  • doitac11
  • doitac12
  • doitac13
  • doitac14
  • doitac0
  • doitac1
  • doitac2
  • doitac3
  • doitac4
  • doitac5
  • doitac6
  • doitac7
  • doitac8
  • doitac9
  • doitac10
  • doitac11
  • doitac12
  • doitac13
  • doitac14
Về đầu trang